ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO 124 Đường Nguyễn-Trãi Nha-Trang.

ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO 124 Đường Nguyễn-Trãi Nha-Trang.
ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG-ĐẠO ĐẠI-VƯƠNG - Số 124 Đường Nguyễn-Trãi, Thành Phố Nha-Trang.

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO QUẺ SỐ 8


LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO

                           QUẺ SỐ  8  -  HẠ HẠ

TRIỆU :                       Ngạ hổ phùng dương.

Dịch :                            Hổ đói gặp dê .

TỔNG THI :                Tứ dã vô nhân, sự diệc nan,
                                      Thất thân khởi liệu đáo thâm san !
                                      Kim triêu nhược đắc bồ-đề quả,
                                      Thác lạc phong tiền xuất cá quan.

Dịch :                            Vắng tanh bốn mặt khốn nguy thay !
                                      Lạc bước ngờ đâu tới núi này,
                                      Nếu được bồ-đề nhân quả tốt,
                                      Xác xơ họa thoát khỏi vòng dây.

CHÚ GIẢI :

1. TỰ THÂN GIA TRẠCH : Tam nguyệt hoàng hoàng.
          Ý nói : Thân thế và gia đình đương gặp việc bối rối.

.2. CẦU QUAN CẦU TÀI   : Trắc than tu hạnh.
          Ý nói : Nên nhún mình sửa hạnh rồi sẽ mong cầu tài cầu quan.

3. HÔN NHÂN                               : Vĩ sinh bão kiều.
          Ý nói : Vĩ sinh xưa là người giữ chữ tín có hẹn một nữ nhân ở dưới cầu mà không thấy lại, rồi nước dâng, phải ôm cầu mà chết. Ở dây chỉ việc hôn nhân có sự thất hẹn, dù đợi chờ cũng là uổng công.

4. LỤC GIÁP                                 : Thái không vô vân (thời quang không mây).
          Ý nói : Khó hy vọng có thai nghén.

5. PHONG THỦY                         : Địa tích dân bần (đất xấu dân nghèo).
          Ý nói : Mộ để đất xấu, con cháu không mong gì phát phúc.

6. QUAN TỤNG                            : Anh hùng nhập cốc.
          Ý nói : Người anh hùng gặp vận kiển, dù có giỏi cũng không gỡ nổi.

7. TẬT BỆNH                                : Tử-Lộ thinh đảo.
          Ý nói : Bệnh nầy nên cầu Thần Phật phù hộ, nhưng trước hết phải tu tỉnh tam thần; nếu không có âm công lại không chịu hối cải tội lỗi thì cầu cũng chẳng được chứng nào.

8. HÀNH NHÂN THẤT VẬT      : Vọng chi bất kiến.(Trông cũng chẳng thấy).
          Ý nói : Người đi xa không về, của mất không mong lấy lại.

9. LỤC SÚC ĐIỀN TẦM              : Thang hạn nhất niên.
          Ý nói : Công việc đồng ruộng, chăn nuôi, thảy đều thua lỗ.

TỔNG ĐOÁN THỜI VẬN :
         
          Quẻ nầy ứng triệu “Hổ đói gặp dê”, nên các sự đều xấu, khác gì người đi một mình trong chốn vắng vẻ hoang vu không biết đường ra. Giữa lúc kinh hoàng đó, may ra có phúc đức cứu thì cũng phải một phen hú vía rồi mới ra khỏi chốn hiểm nghèo.

          Về thời vận trong triệu có chữ “hổ” ứng vào tháng Dần là tháng Giêng ; có chữ “dương” ứng vào tháng Mùi là tháng 6 ; vậy hai tháng nầy nên đề phòng gấp, sợ có sự bị lừa hoặc bị tai nạn ./-






LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO QUẺ SỐ 7


LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO

                          QUẺ SỐ  7  -  ĐẠI CÁT

TRIỆU :                       Bạt thập đắc ngũ.

Dịch :                            Làm mười đạt năm.

TỔNG THI :                Xuân quang ngâm vịnh bất thăng đề,
                                      Nhật chiếu Thần san ảnh vị đê,
                                      Thạc quả kỷ hồi lưu bất thực,
                                      Thái mao hạ sự xuất trường đê !

Dịch :                            Trời xuân ngâm vịnh dạt dào thơ,
                                      Ác ngả Thần sơn ánh chửa mờ,
                                      Quả chín bấy lâu dành đợi đó,
                                      Thái mao lo phải chốn xa chừ !

CHÚ GIẢI :

1. TỰ THÂN GIA TRẠCH : Công gia vô dạng.
          Ý nói : Già trẻ mạnh khỏe, gia môn khang cát.

2. CẦU QUAN CẦU TÀI             : Xa tái dẩu lượng (lấy xe chở, lấy đấu đong).                                                                                              Ý nói : Việc cầu quan cầu tài đều thắng lợi vô kể.

3. HÔN NHÂN                               : Cầu chi tất đắc (cầu được như ý muốn).                                                                                                             Ý nói : Đánh tiếng là được, không sợ bị từ chối, cũng không gặp sự ngăn trở khó khăn gì.

4. LỤC GIÁP                                 : Yên sơn ngũ quế (Năm gốc quế nhà Đậu Yên-sơn).
          Ý nói : Sinh nhiều con trai, sau đều hiển đạt.
5. PHONG THỦY                         : Tất đắc kỳ trung.
          Ý nói : Mộ để trúng huyệt, kiểu đất hình thổ.

6. QUAN TỤNG                            : Thừa thắng tràng khu.
          Ý nói : Việc kiện đại thắng.

7. TẬT BỆNH                                : Tử tôn phùng cát.
          Ý nói : Gặp thầy gặp thuốc, bệnh sẽ khỏi liền.

8. HÀNH NHÂN THẤT VẬT      : Kim ngã lai tư.
          Ý nói : Người đi xa và của mất sẽ có tin đem về.

9. LỤC SÚC ĐIỀN TẦM              : Thái bình hữu tượng.
          Ý nói : Súc vật và hoa màu không bị phá hại, thảy đều hưng vượng.

TỔNG ĐOÁN THỜI VẬN :

          Quẻ này ứng triệu “làm mười được năm” là triệu biết làm điều hiền, biết chọn đường hay, nên có kết quả tốt. Trong thơ tổng vịnh có câu : “Quả chín bấy lâu dành để đó”  tức là âm công của ông bà tiên tổ còn để lại cho con cháu đời sau hưởng. Vậy ai xin trúng quẻ này mọi việc đều vững vàng, tài lộc cũng tiến đều. Trong quẻ có ghi chữ “đắc ngũ” ứng vào tháng 5 nhằm thời vận rất tốt. Lại có chữ “bạt thập” ứng vào tháng 10 cũng sẽ có việc thắng lợi đưa đến ./-

LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO QUẺ SỐ 6


LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO

                     QUẺ SỐ  6  -  TRUNG BÌNH

TRIỆU :              Thu giang vọng nguyệt.

Dịch :                   Ngắm bóng trăng dưới dòng sông mùa thu.

TỔNG THI :      Đàn cầm kỷ khúc tố tri âm,
                             Mao xá thinh lai bất khả tầm !
                             Nam-phố tống quân thôi hứng tứ,
                             Trường thiên nhạn độ quá bình lâm.

Dịch :                   Thánh thót đàn ai mấy tiếng hòa,
                             Tri âm xóm vắng chẳng tìm ra,
                             Chén đưa nam phố tuôn nguồn hứng,
                             Rừng thẳm lưng trời bóng nhạn xa.

CHÚ GIẢI :

1. TỰ THÂN GIA TRẠCH : Gia dụng bình khang.
          Ý nói : Tự thân mạnh khỏe, nhà cửa bình an. Mọi việc đều diễn tiến nhịp nhàng, không có sự gì thay đổi.

2. CẦU QUAN CẦU TÀI             : Cung tường ngoại vọng.
          Ý nói : Việc cầu quan và cầu tài hiện chưa có lối bước vào đành chỉ đứng ngoài mà ngó.

3. HÔN NHÂN                               : Quy môn đính kỳ.
          Ý nói : Việc hôn nhân  sẽ thành, vì : Đoài sẽ biến hào thượng hóa Kiền (Trời); Chấn sẽ biến hào sơ hóa Khôn (Đất); trời đất giao nên việc phải thành. Tuy nhiên phải đợi chờ một khoảng thời gian.

4. LỤC GIÁP                                 : Thu trung hữu nữ.
          Ý nói : Sinh con gái, sau này tài mạo song toàn.


5. PHONG THỦY                         : Tri nhân tắc triết.
          Ý nói : Nên đón thầy địa lý giỏi tìm giúp đất mới có hy vọng, đừng nghe những phường trí trá xảo ngôn.

6. QUAN TỤNG                            : Do dư vị định.
          Ý nói : Việc kiện tụng, cả đôi bên chưa bên nào quả quyết thắng.

7. TẬT BỆNH                                : Thần chi thính chi.
          Ý nói : Nên cầu Thần Phật phù hộ cho sẽ có cơ chóng khỏi. Cũng nên làm việc phúc đức nữa.

8. HÀNH NHÂN THẤT VẬT      : Vị ngã hà cầu.
          Ý nói : Không nên tìm kiếm chi cả. Người đi xa vẫn chưa về, của mất cũng không tìm thấy.

9. LỤC SÚC ĐIỀN TẦM              : Bạch bích vi hà.
          Ý nói : Việc cầy cấy chăn nuôi, đều thất 1 phần.

TỔNG ĐOÁN THỜI VẬN :

          Quẻ này ứng triệu “ngắm bóng trăng dưới dòng sông mùa thu” nên mọi việc trông như có thực, mà kết quả thành mơ hồ, khác nào như ngắm bóng gương nga long lánh dưới dòng sông, đẹp thì đẹp lắm, nhưng đấy chỉ là ảo ảnh mà thôi.

          Trong thơ tổng đoán cũng có nói :Tiếng đàn văng vẳng từ xóm nhà tranh vang ra, nhưng tìm đến người đánh đàn cũng như người nghe đàn thì tuyệt không thấy ai cả.

          Trong triệu có chữ “thừa phong” là nhờ gió. Gió là quẻ Tốn thuộc hướng Đông Nam, vậy công việc mưu cầu nên tìm nẻo Đông Nam thì tốt nếu quý nhân là người nữ trán rộng, tóc thưa thì càng hay ./-


Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

LỄ HỘI KỶ NIỆM 725 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG GIANG 8/3 Â.L (1288-2013)


Sáng 17-4, Ban quản lý Di tích đền thờ Đức Trần Hưng Đạo (Nha Trang), Học viện Hải quân cùng các hội viên tín hữu long trọng tổ chức lễ dâng hương kỷ niệm 725 năm Ngày chiến thắng Bạch Đằng Giang.
1
Lễ dâng hương trước tượng đài Trần Hưng Đạo.


Lễ kỷ niệm gồm các nghi thức như: Tụng kinh cầu quốc thái dân an; lễ tế cổ truyền; diễu hành xe hoa; dâng hương tại tượng đài Trần Hưng Đạo ở khu vực Công viên Bạch Đằng và rước đuốc thiêng về Đền Trần (số 124 Nguyễn Trãi, Nha Trang). Tại buổi lễ, Ban tổ chức đã ôn lại lịch sử vẻ vang và ý nghĩa của trận chiến trên sông Bạch Đằng năm xưa dưới sự chỉ huy tài tình của Tướng quân Trần Hưng Đạo đánh bại âm mưu xâm lược của giặc Nguyên Mông, mang lại thái bình thịnh trị cho đất nước. Các đại biểu và người dân đã thắp hương bày tỏ lòng tôn kính, tri ân đối với người anh hùng của dân tộc.

Lễ kỷ niệm Bạch Đằng Giang là một trong những lễ hội được tổ chức hàng năm nhằm ghi nhớ công ơn của các thế hệ đi trước, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước cho con cháu.

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO QUẺ SỐ 5


    LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO


               QUẺ SỐ  5  -  THƯỢNG THƯỢNG


TRIỆU :                       Thừa phong phá lãng.
Dịch :                            Nhân gió để lướt sóng.

TỔNG THI :                Bằng hướng đông quân lực khá hồi,
                                      Âm thư nhân sự lưỡng tương thôi,
                                      Ô Giang vị tử nhân giang đỉnh,
                                      Thiên hạ anh hùng kỷ tự cai ?

Dịch :                            Nhờ sức trời xanh khéo chuyển xoay,
                                      Việc hay, dồn dập tiếp tin hay,
                                      Ô Giang chưa mất tài nâng đỉnh,
                                      Thiên hạ nào ai đã sánh tầy ?


CHÚ GIẢI :

1. TỰ THÂN GIA TRẠCH          :        Lão giả an chi.
                                                                   (Già được an nhàn).
          Ý nói : Già trẻ đều khỏe mạnh, gia đình cũng an vui.

2. CẦU QUAN CẦU TÀI             :        Đa đa ích thiên.
                                                                   (Càng nhiều càng hay).
          Ý nói : Cầu quan cầu tài đều đạt như ý muốn, không có sự gì trở ngại.

3. HÔN NHÂN                               :        Trí bưu truyền mệnh.
          Ý nói : Có tin vui mừng báo đến cho biết. Nhất là nếu được người ở xa thì lại càng tốt.

4. LỤC GIÁP                                 :        Kỳ nhân như ngọc
                                                                   (Người đẹp như ngọc)
          Ý nói : Việc sinh nở đẻ con khôi ngô, sau này ắt nên trang quý tử.

5. PHONG THỦY                         :        Lại dĩ an chi.
                                                                   (Nhờ được an toàn)
          Ý nói : Mộ phần yên, không có kẻ khác xâm phạm.

6. QUAN TỤNG                            :        Vạn bang hàng nhược.
          Ý nói : Công lý sáng tỏ, việc kiện tất thắng.

7. TẬT BỆNH                                :        Bồi cố chân nguyên
                                                                   (Bồi bổ nguyên khí)
          Ý nói : Nên dùng thuốc bồi bổ chân nguyên khí và đồng thời giảm tư tự thì bệnh sẽ mau khỏi.

8. HÀNH NHÂN THẤT VẬT      :        Nam xa chỉ lộ
                                                                   (Xe chỉ nam đưa đường)
          Ý nói : Kẻ đi xa có người mách lối về, của mất có kẻ chỉ nẻo tìm.

9. LỤC SÚC ĐIỀN TẦM              :        Nhất triêu hưởng chi.
          Ý nói : Việc chăn nuôi và làm ruộng thảy đều có lợi.

TỔNG ĐOÁN THỜI VẬN :
          Quẻ này ứng triệu “Con thuyền được gió lướt sóng ra khơi” nên mỗi việc đều có sức người ngoài phù trợ không cần vất vả mà được thành công. Tuy nhiên, trong thơ tổng luận có nhắc đến sự nghiệp anh hùng của Hạng Võ, lúc đắc thời, lên ngôi bá vương, coi thường nhân tài hào kiệt trong thiên hạ, rồi sau bị  thất bại ở Ô-Giang.
          Vậy ai xin được quẻ này, công việc làm ăn, mưu vọng tuy có thắng lợi nhưng luôn luôn phải giữ đức tính khiêm nhường thì mới tránh khỏi sự thất bại về sau ./-


LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO QUẺ SỐ 4


   LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO


                           QUẺ SỐ  4  -  HẠ HẠ


TRIỆU :                       Hàn thiền ẩm lộ.
Dịch :                            Ve lạnh uống sương.

TỔNG THI :                Nhân sự vô đa bất thị tiên,
                                      Thử nhân, thử thế đạm như thiền,
                                      Lai sinh ưng học kim-đơn dược,
                                      Ý ngã càn khôn xuất tục duyên.

Dịch :                            Trần tục nào ai đã hóa tiên ?
                                      Thân nầy, thế ấy nhạt mùi thiền,
                                      Kiếp sau học luyện lò tiên dược,
                                      Để chữa đời ta khỏi tục duyên.


CHÚ GIẢI :

1. TỰ THÂN GIA TRẠCH :        Ngã sinh chi hậu.
          Ý nói : Thân thế và gia đình lủng củng, chẳng được như lòng mong muốn.

2. CẦU QUAN CẦU TÀI             :        Mật vân bất vũ.
          Ý nói : Cầu quan cầu tài, nhiều tin tức hay mà sau không có kết quả gì, chỉ toàn là ảo vọng cả.

3. HÔN NHÂN                               :        Bất vĩnh sở sự.
          Ý nói : Việc hôn nhân không vĩnh viễn.

4. LỤC GIÁP                                 :        Hà khả trưởng dã.
          Ý nói : Việc con cái có điều vất vả.

5. PHONG THỦY                         :        Ốc dã thiên lỷ.
          Ý nói : Mộ phần yên.
6. QUAN TỤNG                            :        Hệ vu bào tang.
          Ý nói : Việc quan tụng có thể bị câu lưu.

7. TẬT BỆNH                                :        Nhan Hồi yểu tử.
          Ý nói : Bệnh trọng khó qua khỏi.

8. HÀNH NHÂN THẤT VẬT      :        Kỳ vong kỳ vong.
          Ý nói : Người đi xa và của mất không hy vọng trở về.

9. LỤC SÚC ĐIỀN TẦM              :        Táng ngưu vu dịch.
          Ý nói : Việc nuôi súc vật và việc canh nông đều thất lợi.

TỔNG ĐOÁN THỜI VẬN :

          Quẻ này ứng triệu “Ve lạnh uống sương” là quẻ không có tài lộc, không có quý nhân phù trợ ; các mưu vọng ít thành, ví như con ve xác đã gầy mòn, lại gặp tiết trời lạnh lẻo, chỉ có uống sương mà sống qua ngày.

          Tuy nhiên, dù gặp vận bĩ, nhưng vẫn còn đường sống thì chưa nên chán nản vội, hãy gắng chờ thời ./-

LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO QUẺ SỐ 3


    LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO


                     QUẺ SỐ  3  - TRUNG BÌNH


TRIỆU :                       Vong dương bổ lao.
Dịch :                            Mất dê mới lo rào chuồng.

TỔNG THI :                Trấp tải công phu ẩn kỷ đa,
                                      Nhất triệu lao lạc mạn phân hoa,
                                      Như kim nhược đắc quí công tử,
                                      Lan xú đồng tâm khởi vọng xa.

Dịch :                            Bao độ dùi mài chí thú thay,
                                      Nào ngờ một sớm quá vun tay !
                                      Ví bằng gặp được trang hiền đức,
                                      Lan sa ngày thêm ảnh hưởng hay.

CHÚ GIẢI :

1. TỰ THÂN GIA TRẠCH :        Đại nhân hữu bỉ.
          Ý nói : Tự thân và gia đình gặp lúc lủng củng không yên.

2. CẦU QUAN CẦU TÀI             :        Tái ông đắc mã.
          Ý nói : Cầu quan cầu tài gặp may nhưng phúc, họa điên đảo bất thường, không thể tính trước được.

3. HÔN NHÂN                               :        Đương diện thác quá.
          Ý nói : Việc hôn nhân có sự bỏ qua đáng tiếc.

4. LỤC GIÁP                                 :        Đông môn giải vi.
          Ý nói : Sự sinh nở gặp khó khăn, nhưng sau rồi cũng cứu thoát.

5. PHONG THỦY                         :        Bất như nhân hòa.
          Ý nói : Nên cư xử đẹp đẽ với mọi người để tránh sự phá hoại ngầm phần mộ.

6. QUAN TỤNG                            :        Tất hữu ngã sư.
          Ý nói : Kiện tụng nên tìm người biết luật làm cố vấn thì hơn.

7. TẬT BỆNH                                :        Cửu chuyển đan thành.
          Ý nói : Gặp thầy gặp thuốc, tuy nhiên, cũng tốn nhiều thuốc và thì giờ chạy chữa rồi bệnh mới khỏi.

8. HÀNH NHÂN THẤT VẬT      :        Ngã tổ đông sơn.
          Ý nói : Người đi, của mất nên sang nẻo đông mà tìm.

9. LỤC SÚC ĐIỀM TẦM             :        Tiểu hữu đắc dã.
          Ý nói : Có làm có ăn mà lợi lộc cũng chỉ nho nhỏ.

TỔNG ĐOÁN THỜI VẬN :

          Quẻ này ứng triệu “mất dê mới rào chuồng” là nói nên tu tỉnh tâm chí lại, nên nghe lời khuyên răn của bạn bè mới có cơ cứu vãn tình thế. Nghĩa là dù thời vận kém, nhưng biết hướng thiện cũng có thể chuyển xấu sang tốt, khác nào như kẻ để chuồng hư, dê mất thì nên rào lại chuồng là tự khắc không mất thêm dê nữa.

          Thời vận trong quẻ này có chữ “vong dương” là mất dê ; dê là tháng mùi (tức tháng 6). Vậy tháng 6 hạn xấu phải đề phòng. Ngoài ra, cũng nên lo miệng tiếng, vì dương (dê) thuộc (đoài) là khẩu thiệt (miệng tiếng). Lại nên đề phòng sông nước cho con gái thứ, vì đoài là “thứ nữ” lại là “chẵm lạch” cho nên phải lưu ý ./-