ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO 124 Đường Nguyễn-Trãi Nha-Trang.

ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN-HƯNG-ĐẠO 124 Đường Nguyễn-Trãi Nha-Trang.
ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG-ĐẠO ĐẠI-VƯƠNG - Số 124 Đường Nguyễn-Trãi, Thành Phố Nha-Trang.

Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

LỄ KỶ NIỆM 785 NĂM NGÀY SINH ĐỨC HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Vào sáng ngày mùng 10 tháng Chạp năm Nhâm Thìn (tức ngày 21/01/2013), Ban quản lý Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Đền Thờ Đức Trần Hưng Đạo, số 124 đường Nguyễn Trãi, Thành phố Nha Trang đã tổ chức lễ hội kỷ niệm 785 năm ngày sinh của Đức Hưng Đạo Đại Vương (1228-2013). Ban quản lý tụng Kinh Thánh Trần cầu quốc thái dân an, Ban Nam quan, Nữ quan tế lễ cổ truyền. Về tham dự lễ hội có đại diện các cấp chính quyền, đoàn thể Tỉnh Khánh Hòa, Thành phố Nha Trang, Phường Phước Tân, Học Viện Hải Quân, Hội Đồng Hương Nam Định tại Thành phố Nha Trang, cùng quý vị hội viên, tín hữu, nhân dân Nha Trang dâng hương tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc chống giặc Nguyên Mông thế kỷ 13. 
          Trước đó, chiều ngày mùng 09 tháng Chạp năm Nhâm Thìn (20/01/2013) Ban quản lý đã đến dâng hương tại Tượng Đài và Đền Thờ Đức Thánh Trần trong Công viên Bạch Đằng đường Trần Phú, Nha Trang./-

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Lạ lùng chú chuột chắp tay lạy Phật lia lịa !!!

Chú chuột không màng quan tâm đến những gì đang diễn ra xung quanh mình mà chỉ “hướng về cửa Phật” và… chắp tay vái lạy lia lịa như muốn sám hối một điều gì!

Mới đây, tại Thiền viện Trúc lâm Giác Tâm (hay còn gọi là chùa Cái Bầu, thuộc xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) bỗng xuất hiện một chú chuột nhắt kỳ lạ không biết từ đâu đến rồi chạy vào sân chùa, đứng thẳng người trên hai chân sau, hướng mặt vào cửa nhà chùa và chắp tay vái lạy Phật lia lịa.
 
Những người chứng kiến sự việc không khỏi ngạc nhiên và “ngưỡng mộ” hành động quái lạ nhưng cũng khá thú vị của chú chuột “đắc đạo” này. Người ta thử lấy một quả táo đặt bên cạnh, nhưng chú chuột vẫn “đoạn tuyệt” và “nói không với táo” mà chỉ biết chắp tay vái lạy liên tục.

Theo một số người cho biết, chú chuột kỳ lạ này rất dạn, không biết sợ như những con chuột bình thường khác. Khi có người, chó, thậm chí cả mèo đến gần nhưng chú vẫn tỏ ra “bình thản” và cứ chắp tay lạy, lạy và lạy trong lúc tiếng tụng kinh niệm Phật ở chùa vang lên.

Được biết, Thiền viện Trúc lâm Giác Tâm được xây dựng trên nền chùa Phúc Linh Tự có từ thời Trần, cách đây hơn 700 năm. Sự việc kỳ lạ trên chưa từng xảy ra hoặc chưa từng được phát hiện trong lịch sử của ngôi chùa này.
 

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

NGŨ PHƯƠNG HỔ THẦN QUAN TÁN

     Ngũ Phương Hổ Thần Quan Tán là bài tán được các đệ tử Đức Thánh Trần tụng cùng với Trần Thánh Đại Vương Chính Kinh Văn. Tương truyền bài tán này do Tướng Quân Phạm Ngũ Lão soạn và giáng bút vào giờ Mùi, ngày rằm, tháng 11 năm Tân Mão, niên hiệu Thành Thái thứ 3. Bài giáng bút này nhằm giải thích cho chúng đệ tử hiểu thấu tục thờ Ngũ Phương Hổ Thần và dán hình Ngũ Hổ tại các cửa trong nhà để trừ tà trấn quỷ của nhân dân ta. Phạm Tôn Thần giáng bài tán này và gọi là Ngũ Phương Hổ Thần Quan Tán nhằm để chính danh cho tục thờ này vậy.
     Ngũ Phương Hổ Thần Quan Tán gồm 144 từ và chia thành 36 câu. Mỗi câu mỗi từ đều hàm súc ý nghĩa sâu xa, thấm đẫm tư tưởng Nho gia (nhất là luận thuyết Âm Dương Ngũ Hành và môn Tinh Tượng Học) đồng thời được ứng dụng vào đời sống tâm linh của các đệ tử Đức Thánh Trần theo tinh thần Đạo giáo pha lẫn với tín ngưỡng dân gian của dân tộc ta.
     Sau đây là toàn văn bài Ngũ Phương Hổ Thần Quan Tán :

     NGŨ PHƯƠNG HỔ THẦN QUAN TÁN
     Tán viết :
     Cực chi ngũ hành
     Địa chi ngũ phương
     Nhân chi ngũ luân
     Thiên chi ngũ thường.

Chú giải :
     Cực tức khí Thái Cực trước khi phân định đất trời, tuy vậy trong đó Thái Cực đã chứa âm dương và bao hàm cả sự hình thành nên Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
     Đất có ngũ phương là : Trung ương và Đông, Tây, Nam, Bắc. Đạo làm người phải lấy chữ Ngũ luân là năm mối quan hệ giữa Vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè. Trời cũng có Ngũ thường là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

     Ngưỡng nhi quan yên
     Ngũ Đế thị Hoàng
     Hoàn nhi liệt yên
     Ngũ Hầu nghi Vương.

Chú giải :
     Ngẩng đầu lên mà quan sát, để thấy chòm sao Ngũ Đế tôn nghiêm mà chính vị là sao Hoàng Đế, sao Thanh Đế ở phương Đông, sao Xích Đế ở phương Nam, sao Bạch Đế ở phương Tây,sao Hắc Đế ở phương Bắc.
     Ta lại thấy các vì sao giăng quanh nhau mà vẫn phân định rỏ từng vị trí. Chòm sao Ngũ Hầu gồm năm sao Đê Sư, Đê Hữu, Tam Công, Bác Sĩ và Thái Sư chiếu mệnh cho mỗi vương triều.

     Ngũ Kinh Ngũ Vỹ
     Vân Hán vi chương
     Ngũ Xa, Ngũ Hoành
     Đẩu vận tề quang.

Chú giải :
     Kinh, Vỹ là tên các chòm sao ; Vân Hán là tên gọi Sông Thiên Hà hoặc gọi là dải Ngân Hà, Ngân Hán... tạo nên nét đẹp cả bầu trời.
     Sao Xa, sao Hoành là hai sao nằm ở vị trí chuôi của chòm sao Bắc Đẩu, khi sao Đẩu chuyển thì tất cả đều lấp lánh theo.

     Đồ thành ngũ điểm
     Ngũ số chương dã
     Trù tự Ngũ sự
     Ngũ phúc khang dã.

Chú giải :
     Trong Thiên Hồng Phạm Cửu Trù của Kinh Dịch gọi Ngũ sự là : Mạo (dung mạo), Ngôn (lời nói), Thị (xem), Thính (nghe) và Tư (suy nghĩ) ; còn Ngũ phúc là : Thọ (sống lâu), Phú (giàu có), Khang minh (mạnh khỏe), Du hảo đức (vui theo đức tốt) và Khảo chung mệnh (chết được nhẹ nhàng).
     Ngũ điểm (năm chấm) trên lưng con Long Mã đã tạo nên Hà Đồ và năm con số trên lưng con rùa đã làm nên Lạc Thư. Hai cơ sở để tạo nên thuyết Ngũ hành tương sinh và Ngũ hành tương khắc.

     Ngũ thổ toại tính
     Hậu đức vô cương
     Ngũ quan tư chức
     Thuận đức giả xương.

Chú giải :
     Đất chia làm năm loại : xanh, vàng, trắng, đỏ, đen và vạn vật cũng phải hợp với từng tính chất thổ nghi mà sinh trưởng. Biết thích nghi với điều tự nhiên thì ắt sẽ cho ta công đức sâu dày không bao giờ hết.
     Năm giác quan của con người ta đều có chức năng riêng biệt, biết sử dụng triệt để các chức năng là đã thuận theo cái đức của tự nhiên và do đó sẽ nhất định được phát triển vậy !

     Như tấu Ngũ âm
     Thần nhân kỳ khương
     Như điều Ngũ vị
     Đỉnh nại kỳ trương.

Chú giải :
     Làm được những điều nói trên thì khác nào tấu lên khúc nhạc ngũ âm (gồm : Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ) để cho cả Thần và người đều vui vẻ.
     Như điều hòa được Ngũ vị (gồm : Mặn, Ngọt, Đắng, Cay, Chua) như đúc nên chiếc đỉnh để khuếch trương thành quả.

     Thánh thể năng cần
     Ngũ cốc dụng lương
     Thánh tâm duy tịnh
     Ngũ trần đốn vong.

Chú giải :
     Nếu biết làm việc siêng năng, thì ngũ cốc sẽ bồi đắp cho ta những kho lương thực dồi dào. Nếu lòng ta thanh tịnh thì ngũ trần cũng lập tức tiêu vong.

     Ư đông ư tây
     Nam bắc trung ương
     Biến nhi hóa chi
     Ngũ Nhạc đường đường.

Chú giải :
     Dù Đông, tây, nam, bắc, trung ương (tức ngũ phương) có biến hóa đổi dời thì ta vẫn phải giữ cho tâm vững vàng như Ngũ Nhạc (tức Đông Nhạc - Thái Sơn, Tây Nhạc - Hoa Sơn, Nam Nhạc - Hành Sơn, Bắc Nhạc - Hằng Sơn và Trung Nhạc - Tung Sơn).

     Vi thanh vi bạch
     Xích hắc huyền hoàng
     Thần nhi thông chi
     Ngũ vị dương dương.

Chú giải :
     Dẫu cho xanh hay trắng, đen, đỏ hoặc vàng thì cũng chẳng sao. Vì khi Thần và người cùng cảm ứng, thông suốt cho nhau thì sẽ tạo nên sự linh hiển và Ngũ vị sẽ được vững vàng, lồng lộng.

                                       CHÂN KINH HOÀN
                                           (Hết chân kinh)
           
     

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

DIỄN CA : TRẦN THÁNH ĐẠI VƯƠNG CHÍNH KINH VĂN

1. Thánh xưa vốn thuộc dòng Trần Đế
    Vâng mệnh trời giáng thế đầu thai
    Cứu dân, giúp nước chẳng nài
    Tấm lòng trung hiếu nào ai sánh bằng
    Khi công quả viên thành mọi lẽ
    Lại quay về thần vị Thiên cung
    Cửu Thiên Vũ Đế sắc phong
    Trời Nam trấn trị hết lòng vì dân.
    Lừng uy vũ, hiển linh, cảm ứng
    Quản văn quan, võ tướng cân phân
    Trên thời tuân mệnh Thánh quân
    Dưới thời dốc sức cứu dân giúp đời.

2. Nay xét thấy ở miền hạ giới
    Còn biết bao đệ tử của ta
    Thân tuy thành tín thật thà
    Mà tâm vẫn cứ phong ba, đổi dời
    Nên dẫu có lúc cầu, lúc ứng
    Mà ứng kia chẳng khứng dài lâu
    Chìm trong tịch mịch, khổ đau
    Nhân tâm, thế đạo dãi dầu...Tiếc thay !

3. Nay ta dựa vào Phạm Điện Soái
    Cùng cung nghinh thần giá xuống đây
    Vọng từ Hà Lạc chốn này
    Ra tay giáng bút Kinh hay răn đời...
    Rằng ...

4. Sinh ra trong cõi đất trời
    Phải theo sự nghiệp Thánh hiền mà đi
    Hỏi rằng : "sự nghiệp là chi ?"
    Là Trung Hiếu phải khắc ghi nằm lòng !
    Hiếu Trung là gốc ngũ luân
    Ai mà thiếu một thì không thành người.
    Các người hãy gắng nghĩ suy :
    Là con có Hiếu ta thì làm sao ?
    Làm tôi Trung phải thế nào ?
    Là anh em phải sống sao mới Hòa ?
    Vợ chồng tương Kính thế nào ?
    Bạn bè chữ Tín hiểu sao mới tròn ?
    ...
    Trên thời tôn kính Thánh Thần
    Hết lòng thờ phụng tổ tông mới là...
    Dưới thời siêu độ hồn ma
    Làm nhiều âm đức cho ta, cho người.
    Thế là đã đạt chữ Nhân
    Là đi đến chỗ tận cùng Đạo ta !

5. Nếu chẳng được vậy khác nào :
    Sống thì nghịch lại phép vua
    Đến khi chết phải khép vô tội trời.
    Vĩnh viễn xa dứt kiếp người
    Mà nhân đạo cũng xa rời các ngươi...
    Thương lắm thay !

6. Các ngươi đã gởi phận này
    Làm đệ tử Thánh từ rày khắc sâu.
    Mau mau trở bước hồi đầu
    Chăm làm điều tốt tránh điều ác tâm.
    Trước thời gìn giữ ngũ luân
    Sau thời dốc chí tạo dần phúc âm.
    Rượu chè, cờ bạc, sắc dâm
    Phải nghiêm tuyệt tránh đừng xâm phạm vào.
    Tham ô, biển lận, kiêu căng
    Là điều cấm kỵ phải năng giới mình.
    Làm điều nhân nghĩa anh minh
    Bỏ ngoài tai chuyện nhân tình thị phi.
    Hiếu trung luôn phải khắc ghi
    Đừng cho tục niệm mờ đi tâm thành.
    Lấy chất phác xử gia đình
    Lấy lòng trung hậu lưu truyền tử tôn.
    Biết rằng sĩ, nông, công, thương
    Mỗi ngành đều có mỗi thường nghiệp riêng.
    Không chìm vào thói đảo điên
    Về sau ắt được diên niên thọ trường.

7. Tự nhiên quỷ sợ Thần kiêng
    Tai qua nạn khỏi phúc duyên lại gần.
    Chẳng cần lạy Thánh van Thần
    Niềm vui vẫn hóa tường vân tụ hồi.
    Chẳng cần kinh kệ khẩn cầu
    Muôn xe phước vẫn theo nhau tìm về !
    ...
    Há không vui sướng lắm sao !
    Các ngươi hãy gắng sức mà làm theo !
    Còn nếu như trái lời Thánh dặn
    Thì các ngươi đừng tụng kinh này.
    Đấy lời ta, phải kính tuân ! 

                       (Hết)

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

TRẦN THÁNH ĐẠI VƯƠNG CHÍNH KINH VĂN CHÚ GIẢI

TRẦN THÁNH ĐẠI VƯƠNG CHÍNH KINH VĂN CHÚ GIẢI
                            (Hình Phước Liên sưu tầm,biên dịch và chú giải)

     Trần Thánh Đại Vương Chính Kinh Văn là bổn Kinh thường tụng của các đệ tử theo tín ngưỡng Đức Thánh Trần.Ở Nha Trang, Khánh Hòa cũng vậy, Trần Thánh Đại Vương Chính Kinh Văn thậm chí đã trở thành kinh nhật tụng của nhiều thiện nam tín nữ.
     Gọi Chính Kinh Văn là bởi vì đây là bản kinh văn chính thức đề ra con đường chủ yếu để chúng đệ tử noi theo mà hành tập, sửa mình. Gọi là Kinh Văn bởi vì những điều trong ấy chỉ là văn bản ghi lại lời dạy của Đức Thánh Trần đối với các đệ tử của mình; không triết lý cao vời, không sâu xa ảo diệu như các bộ kinh của Tam giáo mà thiết thân gần gũi như lời cha dạy con, ông dạy cháu nhưng vẫn hàm chứa tất cả tư tưởng cơ bản nhất của mạch nguồn Tam giáo. Cho nên không gọi là Kinh mà định danh là Kinh Văn là đức khiêm cung đã được đề ra ngay từ tên gọi vậy !
     Trần Thánh Đại Vương Chính Kinh Văn bao gồm :
     - Trần Thánh Đại Vương bửu cáo : Được viết dưới dạng một bài phú ngắn trong đó ghi lại tiểu sử khái quát của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và danh hiệu của Ngài được sắc phong khi hiển Thánh.
     - Khai kinh kệ : Bài Kệ khai kinh được viết ở thể thất ngôn tứ tuyệt. Nội dung bài kệ nói về tác dụng của kinh văn đối với chúng đệ tử khi thành tâm tụng niệm.
     - Trần Thánh Đại Vương Chính Kinh Văn : Là bản "Ngọc chỉ giáng văn huấn thế" của Đức Thánh Trần, tương truyền được Phạm Điện Soái Tướng Quân tuân mệnh Ngài giáng bút chép lại tại buổi cung nghinh Thánh giá (lên đồng) ở vọng từ Hà Lạc.
     Trần Thánh Đại Vương Chính Kinh Văn gồm 365 từ ứng với số Chu Thiên và chia làm 7 tiết :
     - Tiết 1 : Khái quát cuộc đời và công đức của Đức Thánh Trần Hưng Đạo.
     - Tiết 2 : Nêu lý do và mục đích của kinh văn.
     - Tiết 3 : Nêu rõ hoàn cảnh ra đời của kinh văn.
     - Tiết 4 : Khái quát nội dung tư tưởng chủ đạo của Kinh Văn là Trung và Hiếu qua đó khuyến dụ mọi người biết tu dưỡng và hành động sao cho trọn đạo ngũ luân, hành thiện tích phước, tạo âm đức cho đời sau.
     - Tiết 5 : Khái quát về những hậu quả cho những ai làm trái lại đạo trung hiếu, vi phạm ngũ luân.
     - Tiết 6 : Tiếp tục khuyên răn cặn kẻ để chúng đệ tử phải quyết tâm cải ác tùng thiện, và đưa ra những lời dạy cụ thể cho chúng đệ tử có thể làm việc thiện một cách có hệ thống, tránh sa vào cảnh nghịch lý.
     - Tiết 7 : Khẳng định lại những lời dạy trên của Thánh (từ tiết 4 đến tiết 6) và khuyến khích chúng đệ tử vui lòng làm theo.
     Tóm lại, nội dung chủ đạo của Trần Thánh Đại Vương Chính Kinh Văn được thể hiện trong 365 từ cô đúc, có thể gộp lại và mỗi hai từ Trung Hiếu. Trung Hiếu là gốc của ngũ luân; là nguồn ngũ thường; là lẽ hằng để con người ta dựa vào mà ứng xử với tự nhiên, xã hội và cả với Thánh Thần. Đấy cũng là toàn bộ cuộc đời đầy nhân văn và hiển hách của Tướng Quân Trần Quốc Tuấn đối với đất nước, nhân dân và với tông tộc nhà Trần. Chính vì lẽ ấy mà sau khi Người mất, nhân dân đã tôn Ngài lên hàng Thánh để cùng sống mãi với non sông đất Việt. Trần Thánh Đại Vương Chính Kinh Văn cũng chính là tấm lòng của Người và Đạo của Đức Thánh Trần chính là đạo của Hiếu Trung vậy !
     Ngoài ra, trong hệ thống kinh văn của tục thờ Trần Hưng Đạo ở nước ta và Nha Trang, Khánh Hòa còn một số các Bửu cáo về Đệ Nhất Vương Cô - Quyên Thanh Công Chúa, bửu cáo Đệ Nhị Vương Cô - Thủy Tiên Công Chúa, bửu cáo Khải Thánh Vương Phụ, Khải Thánh Vương Mẫu, bửu cáo Phạm Điện Soái và bài Ngũ Phương Hổ Thần Quan Tán... cũng được các đệ tử của Người tụng vào các ngày kỵ, ngày sinh của các bậc tôn hiền ấy. Trong đó bài Ngũ Phương Hổ Thần Quan Tán và bửu cáo Phạm Điện Soái được sử dụng chung với Trần Thánh Đại Vương Chính Kinh Văn.
     Về nghi thức tụng niệm Kinh Thánh Trần ở Nha Trang, Khánh Hòa cũng không khác nhiều so với tụng kinh của phật tử. Người tụng kinh có thể quỳ hoặc đứng và không được phép ngồi. Có thể tụng lớn hoặc tụng nhỏ, song điều cốt yếu là phải đọc thật rõ ràng từng câu, từng chữ trong kinh văn và quan trọng nhất là phải chú tâm, miệng đọc lòng suy hầu đạt đến sự "Hữu thành tất ứng, hữu cảm tất thông".
     Với những gì mà Kinh văn Đức Thánh Trần răn dạy, có lẽ không chỉ dành riêng cho những đệ tử của Người mà nó mãi mãi là điều mà bất cứ ai cũng cần để tâm và hướng đến.
     Sau đây, xin ghi lại toàn văn Trần thánh Đại Vương Chính Kinh Văn do chúng tôi sưu tầm được tại Đền Trần hưng Đạo Nha Trang và tại Đền Trần Hưng Đạo Thành phố Hồ Chí Minh. Phần chú giải xin phép dịch thật sát nghĩa với nguyên văn và vì lòng yêu mến bộ kinh văn này chúng tôi xin được phép viết lại theo lối diễn ca để nếu có thể sẽ giúp cho mọi người dễ hiểu hơn về bản Kinh văn này.
                                                                                    
     TRẦN THÁNH ĐẠI VƯƠNG BỬU CÁO
     Chí tâm quy mệnh lễ
     Đông A đế trụ
     Nam Đảo Tiên tung
     Phò quốc cứu dân, đẳng huân công vu Thiên Địa ;
     Sừ gian thảo loạn, phấn uy vũ vu Bắc Nam.
     Nhất thân gia quốc chi hoài, ân ưu Khải Thánh ;
     Vạn cổ đan thanh nhất bức, trác quán Tôn thần.
     Thạnh đức văn ư Đại Bang, thiên thư quả định ;
     Dư linh trấn hồ Việt Điện, quỷ tuý tiềm hình.
     Võ tước gia phong,
     Thiên cung thống nhiếp hồ văn thân chi địa ;
     Lộc tịch thế chưởng,
     Nhân giới hà sa hồ hóa dục chi phương.
     Cửu Thiên Võ Đế, Nhân Võ Hưng Đạo Đại Vương,
     Trần Triều Hiển Thánh Thiên Tôn.

     Dịch nghĩa :

             BỬU CÁO CỦA TRẦN THÁNH ĐẠI VƯƠNG
                                 (Dốc lòng theo mạng lễ)
                                 Trụ cột của Đông A
                                 Giống Tiên vùng Nam Đảo.
      Giúp nước cứu dân, công lao sánh cùng Trời Đất ;
      Trừ gian dẹp loạn, uy vũ lừng cõi Bắc Nam.
      Một thân hai nỗi nước nhà, lo lắng nặng lòng Khải Thánh ;
      Muôn thưở lưu danh sử sách, vẻ vang bậc nhất Tôn Thần.
      Thạnh đức rền khắp Đại Bang, sách Trời định rõ ;
      Dư linh trấn yên Việt Điện, lũ quỷ trốn hình.
      Phong tước Võ Thần,
      Chốn thiên đình thống lĩnh xứ văn thân (1);
      Giữ quyền Lộc tịch,
      Cõi dương thế duổi rong miền hóa dục  (2).
      Cửu Thiên Vũ Đế, Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương,
      Trần Triều Hiển Thánh Thiên Tôn.

      Chú thích :
      (1) Xứ văn thân : Xứ sở có tục lệ xăm mình, nhằm chỉ vùng đất Giao Chỉ ngày xưa.
      (2) Miền hóa dục : Hóa dục tức là sản sinh nên những bậc hiền tài. Bắt nguồn từ thành ngữ cổ "Chung linh dục tú" - có nghĩa là hoàn cảnh tú mỹ sẽ sinh ra con người tú mỹ.

     KHAI KINH KỆ
     Tụng đắc chân kinh độ thế nhân
     Toàn gia khang cát hưởng trường xuân
     Phàm tâm nhược thức thần thông pháp
     Nhất thiết tai ương tận hóa trần.

Dịch nghĩa :
     Tụng được kinh này độ thế nhân
     Toàn gia an hưởng phước trường xuân
     Tâm phàm nếu hiểu thông lời Thánh
     Thì mọi tai ương hóa bụi trần.

TRẦN THÁNH ĐẠI VƯƠNG CHÍNH KINH VĂN
1.
     Thánh tích tại Trần thời,
     Khâm mông Ngọc chỉ giáng thế.
Phù quốc cứu dân, duy Trung duy Hiếu,
Huân thành quả mãn tái phụng hồi chứng Thần vị.
Sắc phong Cửu Thiên Võ Đế, trấn trị Nam phương,
Hiển linh chấn uy, khâm sai văn võ bộ quan.
Thượng tuân Thánh lệnh, hạ độ nhân gian.

Dịch nghĩa :
     Đức Thánh phát tích từ thời Trần,
     Vâng mệnh của Ngọc Hoàng Thượng Đế mà giáng thế.
     Giúp nước cứu dân, một lòng Trung Hiếu,
     Đến khi công thành quả mãn lại phụng mệnh trở về thần vị.
     Được sắc phong Cửu Thiên Võ Đế, trấn giữ cai trị Phương Nam.
     Uy vũ, anh linh hiển ứng, cai quản bộ hạ văn quan, võ tướng.
     Trên vâng theo Thánh lệnh, dưới tế độ nhân gian.

2.
     Tư sát chi hạ giới chúng đệ tử đẳng :
     Thân tuy đầu thành nhi tâm bất nội tỉnh,
     Sở dĩ cầu chi hữu ứng, ứng chi bất cửu,
     Chung luân tịch mịch,
     Thế đạo nhân tâm khả thắng tích tai !

Dịch nghĩa :
     Nay xét thấy chúng đệ tử ở miền hạ giới,
     Thân tuy đầu mộ thành tín mà tâm vẫn không có được sự phản tĩnh.
     Cho nên, dầu có lúc cầu lúc ứng mà sự ứng không được lâu dài,
     Cuối cùng vẫn chìm vào trong tịch mịch,
     Thế đạo nhân tâm như vậy, thật là tiếc lắm thay !

3.
     Thánh kim cứ Phạm Điện Soái Tướng Quân,cung nghinh Thần giá quang lâm Hà Lạc vọng từ, giáng bút thành Kinh dĩ huấn thế viết :

Dịch nghĩa :
     Nay ta dựa vào Phạm Điện Soái Tướng Quân (Tướng quân Phạm Ngũ Lão), cung nghinh Thần giá đến đền thờ vọng tại Hà Lạc và giáng bút chép thành bản Kinh văn này để dạy đời rằng :

4.
     Nhân sinh thiên địa gian,
     Yếu đương tác Thánh hiền sự nghiệp.
     Sự nghiệp giả hà ? Trung hiếu nhi dĩ !
     Trung hiếu ngũ luân chi thủ, khuyết nhất bất khả.
     Nhĩ đẳng đương tư :
     Vi tử như hà khắc hiếu ?
     Vi thần như hà khắc trung ?
     Huynh đệ như hà khắc hòa ?
     Phu phụ như hà khắc kính ?
     Bằng hữu như hà khắc tín ?
     Thượng tắc kính thiên thần, sự tổ tiên ;
     Hạ tắc độ âm hồn, hành âm chất.
     Như thử vi nhân, thứ hồ tận đạo.

Dịch nghĩa :
     Người sinh ra trong trời đất
     Phải biết làm theo sự nghiệp của các bậc Thánh hiền.
     Vậy sự nghiệp ấy là gì ? Đó chính là Trung Hiếu vậy !
     Trung hiếu là gốc của ngũ luân, không thể thiếu điều nào cả.
     Các ngươi phải suy nghĩ :
     Là con người phải làm thế nào mới đạt được chữ Hiếu ?
     Là tôi phải làm thế nào mới đạt được chữ Trung ?
     Anh em phải đối xử ra sao mới đạt được chữ Hòa ?
     Vợ chồng phải sống sao mới đạt được chữ Kính ?
     Bạn bè đối xử ra sao mới đạt được chữ Tín ?
     Trên thì phải biết kính trọng Thánh Thần, phụng thờ Tiên tổ,
     Dưới thì phải gắng siêu độ các vong hồn, tạo nhiều âm đức.
     Như vậy là đạt được chữ Nhân và đã đi đến tận cùng Đạo vậy !

5.
     Bất nhiên :
     Sinh ly vương pháp, tử thọ thiên khiển,
     Vĩnh ly nhân loại, bất do nhân đạo.
     Ai tai !

Dịch nghĩa :
     Nếu chẳng làm được như vậy thì khác nào :
     Sống không tròn với phép vua, khi chết đi lại chịu sự khiển trách của Trời.
     Vĩnh viễn phải xa rời loài người và không còn nhân đạo nữa.
     Thương lắm thay !

6.
     Nhĩ đẳng ký đầu vi Thánh đệ tử, tảo tảo hồi đầu,
     Phụng hành chúng thiện, năng khử chư ác,
     Thủ đốn ngũ luân, thứ hành âm chất
     Tửu sắc, tài khí, nghiêm nhi tuyệt chi !
     Kiêu lận, tham ô, cấm nhi giới chi !
     Hành Thánh nhân nghĩa, bất tuất nhân ngôn,
     Thủ Thánh Trung Hiếu, bất phản tục niệm.
     Xử gia đình dĩ chất phác, di tử tôn dĩ trung hậu.
     Sĩ nông công thương, các hữu thường nghiệp,
     Bất luân du bạc, hàm quy hậu đức.

Dịch nghĩa :
     Các người đã gửi thân vào làm đệ tử Thánh, thì mau chóng quay đầu,
     Dốc lòng làm nhiều việc thiện, hủy bỏ điều ác.
     Trước là giữ đạo ngũ luân, sau phải chăm làm âm đức.
     Rượu chè, sắc dục, cờ bạc phải nghiêm túc rời xa !
     Kiêu căng, biển lận, tham ô phải tự mình cấm giới.
     Hãy làm điều nhân nghĩa như lời Thánh dạy, bỏ ngoài tai lời lẽ thị phi,
     Giữ cho trọn hiếu trung, chớ để lòng quay về tục niệm.
     Lấy sự chất phác mà xử sự trong gia đình ;
     Lấy đức trung hậu mà lưu truyền cho con cháu.
     Sĩ nông công thương, mỗi nghề đều có riêng thường nghiệp.
     Cốt sao đừng đắm chìm vào thói xấu ắt sẽ hưởng được phúc dày.

7.
     Tự nhiên, Thần khâm quỷ phạ, tai khứ phước lai,
     Bất tất độc kỳ Thánh Thần, nhi thiên tường vân tập, vạn phước biền trăn.
     Khởi bất lạc tai ! Nhĩ đẳng miễn nhi hành chi !
     ...
     Thảng vi Thánh huấn, vật tụng Thánh Kinh.
     Lẫm chi !

Dịch nghĩa :
     Tự nhiên, Thần kiêng quỷ sợ, tai qua phước đến.
     Chẳng cần phải đọc Kinh cầu khẩn Thánh Thần mà ngàn điều lành như mây về tụ hội, muôn điều phước cứ theo xe song mã đến tìm.
     Thế chẳng phải là vui sướng lắm sao ! Các ngươi gắng mà làm theo vậy !
     ...
     Còn như trái lời Thánh dạy, thì đừng tụng Kinh Thánh.
     Phải tuân kỉnh lấy đó !